Các cụ cao niên của những vùng chè nổi tiếng, có truyền thống lâu đời của Thái Nguyên như Tân Cương (T.P Thái Nguyên); Trại Cài, Minh Lập (Đồng Hỷ), La Bằng (Đồng Hỷ); Khe Cốc, Tức Tranh (Phú Lương) đều không nhớ rõ cây chè đã được đưa về miền quê nửa đồng, nửa núi này trồng từ bao giờ. Chỉ biết cây chè Thái Nguyên được lấy giống từ vùng đất Phú Thọ. Hiện tại, cây chè nhiều tuổi nhất còn sống của Thái Nguyên là cây chè tổ gần 90 tuổi ở vùng chè Tân Cương.
Qua các tài liệu chúng tôi nghiên cứu thì lịch sử phát triển của cây chè Thái Nguyên cũng gắn liền với lịch sử phát triển cây chè Việt Nam. Thời kỳ trước năm 1882, người Việt Nam trồng chè dưới 2 dạng: Cây chè vườn hộ gia đình vùng châu thổ Sông Hồng và cây chè rừng ở miền núi phía Bắc. Chè vườn hộ gia đình uống nước lá chè tươi thuộc vùng chè đồng bằng sông Hồng, tập trung chủ yếu ở Hà Đông (Hà Tây, nay thuộc Hà Nội) và vùng chè đồi thuộc tỉnh Nghệ An. Còn Thái Nguyên và các tỉnh khác như Hà Giang, Bắc Kạn, Tuyên Quang… thuộc chè rừng vùng núi, thường uống chè mạn, lên men một nửa.
Lễ hội chè Thái Nguyên
Từ năm1882 đến 1945, ngoài 2 loại chè trên, nước ta đã xuất hiện mới 2 loại chè công nghiệp là chè đen công nghệ truyền thống OTD và chè xanh sao chảo Trung Quốc. Bắt đầu phát triển những đồn điền chè lớn tư bản Pháp với thiết bị công nghệ hiện đại. Người dân Việt Nam nói chung và người dân Thái Nguyên nói riêng bắt đầu sản xuất chè xanh tại hộ gia đình và tiểu doanh điền. Chè đen xuất khẩu sang thị trường Tây Âu, chè xanh sang thị trường Bắc Phi là chủ yếu. Sau 1954, Nhà nước xây dựng các Nông trường quốc doanh và Hợp tác xã nông nghiệp trồng chè; chè đen OTD xuất khẩu sang Liên Xô - Đông Âu, và chè xanh xuất khẩu sang Trung Quốc. Đến hết năm 2002, tổng diện tích chè của cả nước là 108.000 ha, trong đó có 87.000 ha chè kinh doanh. Tổng số lượng chè sản xuất 98.000 tấn, trong đó xuất khẩu 72.000 tấn đạt 82 triệu USD. Riêng với Thái Nguyên, hiện nay, diện tích chè đã đạt con số trên 17.500 ha, sản lượng chè năm 2009 đã đạt trên 140 nghìn tấn. Gần 40 nhà máy, doanh nghiệp, hợp tác xã đã tham gia vào lĩnh vực sản xuất, chế biến chè góp phần đưa cây chè trở thành cây kinh tế mũi nhọn của tỉnh.
Về giống chè, từ cách đây hằng trăm năm, người dân Thái Nguyên vẫn chỉ trồng giống bản địa là chè Trung Du để sản xuất chè xanh và chè đen. Hơn chục năm trở lại đây, người làm chè Thái Nguyên đã mạnh dạn đưa các giống chè mới như chè cành LDP1, TRI 777, Bát vân tiên… Đây là những giống chè không chỉ cho năng suất cao mà với chất đất riêng có, cộng với bí quyết làm chè khá đặc trưng của những “nghệ nhân” vùng chè, lịch sử cây chè Thái Nguyên đã được sang trang mới khi chè không chỉ đạt năng suất cao mà chất lượng chè cũng rất vượt trội, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người làm chè.
Nhìn vào lịch sử phát triển của cây chè Việt Nam nói chung, cây chè Thái Nguyên nói riêng cho thấy, chè Thái Nguyên có lịch sử phát triển khá lâu đời. Cùng với những thăng trầm của lịch sử, nhất là những năm dưới thời Thực dân Pháp đô hộ hay thời kỳ đất nước ta chuyển đổi từ chế độ bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cây chè Thái Nguyên vẫn luôn đứng vững và hiện nay. Cây chè Thái Nguyên đang tự tin bước vào thời kỳ hội nhập, hứa hẹn mang đến những triển vọng tốt đẹp, góp phần làm chuyển đổi cơ cấu kinh tế của tỉnh Thái Nguyên.
Huệ Dinh(Báo Thái Nguyên)